Loading...

Tìm kiếm Blog này

Ðang tải...

2007-08-23

P/E - một số điểm cơ bản

P/E - một số điểm cơ bản

P/E là tỷ lệ giữa giá thị trường và lợi nhuận ròng trên mỗi cổ phần của một công ty. Chính định nghĩa này đã ngầm định một cách đơn giản để tính toán chỉ số này, chỉ cần lấy giá hiện tại của mỗi cổ phần chia cho lợi nhuận ròng trên mỗi cổ phần đó (EPS):
P/E = Giá trị thị trường /Lợi nhuận ròng trên mộtcổ phần (EPS)115.gif

Trong hầu hết các trường hợp, việc tính toán tỷ lệ P/E đều có sử dụng tới chỉ số EPS của 4 quý trước. Điều này được hiểu như là một dấu hiệu của P/E. Tuy nhiên, cũng có lúc chỉ số EPS được lấy từ việc ước tính lợi nhuận kì vọng cho 4 quý tiếp theo. P/E tính theo cách này được gọi là P/E định hướng hay P/E kế hoạch. Một cách tính khác cũng thường được thấy là sử dụng EPS của hai quý trước đó hoặc ước tính cho hai quý tiếp theo.

Trên thực tế thì không có sự khác biệt lớn lắm giữa các cách tính trên. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng trong cách tính đầu tiên, bạn sử dụng dữ liệu có thật từ hoạt động trong quá khứ của công ty. Hai cách tính khác dựa vào những tính toán ước lượng, do đó không phải lúc nào cũng hoàn hảo và chính xác.

Khi các công ty làm ăn không có lãi, tất yếu là EPS của công ty đó sẽ âm, do vậyviệc tính toán P/E của các công ty này sẽ gặp nhiều khó khăn. Có nhiều ý kiến khác nhau về việc làm thế nào để giải quyết được vấn đề này. Một số ý kiến cho rằng cứ để hệ số P/E âm, một số khác thì cho rằng nên gán cho P/E trong trường hợp này giá trị bằng 0, trong khi phần lớn ý kiến khác thì nghĩ đơn giản là trong trường hợp này, P/E không tồn tại.


Thông thường, tỷ lệ P/E trung bình trên thị trường thường dao động trong khoảng từ 15 – 25. Sự dao động này phần lớn phụ thuộc vào tình trạng của nền kinh tế. Hệ số P/E cũng rất khác nhau giữa các công ty và các ngành, lĩnh vực kinh doanh.

Vậy hệ số P/E được sử dụng để làm gì?

Theo lý thuyết, P/E của một cổ phiếu sẽ cho chúng ta biết là các nhà đầu tư sẵn lòng trả bao nhiêu cho mỗi dollar tiền lãi là bao nhiêu. Với nội dung này, đôi khi P/E còn được gọi là số nhân (multiple ) của một cổ phiếu. Nói cách khác, một tỉ lệ P/E ở mức 20 sẽ cho biết rằng cá nhà đầu tư vào cổ phiếu này sẵn lòng chi 20 $ cho mỗi một đôla lợi nhuận mà công ty đó tạo ra. Tuy nhiên, đây là cách tiếp cận P/E quá đơn giản và không tính đến triển vọng tăng trưởng của công ty đó.

Mặc dù số liệu EPS trong công thức tính P/E thường dựa chủ yếu vào lợi nhuận ròng từ hoạt động kinh doanh của công ty trong 4 quý trước đó nhưng P/E cũng không chỉ đơn thuần là thước đo về hiệu quả hoạt động của công ty trong quá khứ. Kỳ vọng của thị trường về sự phát triển của công ty cũng là một nhân tố được tính tới trong chỉ số này. Nên nhớ rằng, giá cổ phiếu của một công ty sẽ phản ánh nhận định của các nhà đầu tư về giá trị của công ty đó. Tiềm năng phát triển trong tương lai cũng được tính tới khi định giá cổ phiếu. Do đó, một cách tốt hơn để lý giải tỉ lệ P/E đó là P/E là sự phản ánh mức độ lạc quan cũng như kì vọng của thị trường về khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp trong tương lai.

Nếu một công ty có hệ số P/E cao hơn mức trung bình của toàn bộ thị trường mức bình quân ngành, điều này có nghĩa là thị trường đang kỳ vọng vào khả năng tăng trưởng tốt của công ty trong một thời gian tới, có thể là vài tháng hoặc vài năm nữa. Một công ty có hệ số P/E cao cuối cùng sẽ phải “xứng đáng với kì vọng của thị trường” thể hiện thông qua sự tăng trưởng lớn về lợi nhuận hoạt động, nếu không chắc chắn giá cổ phiếu của công ty đó sẽ giảm.

Một ví dụ điển hình là tập đoàn Microsoft. Vài năm trước đây, khi mà tập đoàn này tăng trưởng ngoạn mục, và có tỷ lệ P/E trên 100. Ngày nay, Microsoft là một trong những công ty lớn nhất trên thế giới, tuy nhiên thu nhập và lãi của công ty này không thể duy trì với tốc độ tăng trưởng như trước đây. Kết quả là, tháng 6/2002 tỷ lệ P/E của tập đoàn đã giảm xuống mức 43. Sự sụt giảm tỷ lệ P/E là điều hết sức bình thường khi các công ty có tốc độ tăng trưởng ở mức cao vào giai đoạn mới hình thành, củng cố được vị thế và danh tiếng của mình sau đó chuyển thành các công ty bluechips.

Đắt hay rẻ

22.gifP/E là chỉ số về giá trị cổ phiếu tốt hơn hẳn so với việc sử dụng đơn thuần giá trị thị trường của cố phiếu đó. VD: nếu các yếu tố khác là tương tự nhau, một cổ phiếu có giá $10và P/E là 75 sẽ đắt hơn một cổ phần trị giá $100 nhưng có tỷ lệ P/E chỉ là 20. Điều này có nghĩa sử dụng P/E để phân tích cũng sẽ có hạn chế nhất định, bạn không thể so sánh tỷ lệ P/E của 2 công ty quá khác biệt nhau để quyết định rằng công ty nào có giá trị tốt hơn.

Sẽ rất khó để có thể quyết định rằng một chỉ số P/E nào đó là cao hay thấp nếu như không tính toán hai nhân tố chính:

Thứ nhất là tốc độ tăng trưởng của công ty - Công ty đó đã phát triển như thế nào trong quá khứ và tốc độ tăng trưởng này có được kỳ vọng sẽ tăng lên, hay ít nhất là cũng sẽ duy trì không đổi trong tương lai hay không? Rõ ràng là không ổn nếu như trước đây công ty có mức tăng trưởng là 5 nhưng lại có tỷ lệ P/E ở mức trung bình. Nếu như tỷ lệ tăng trưởng kế hoạch không điều chỉnh lại hệ số P/E, khi đó giá cổ phần sẽ cao hơn giá trị thực. Trong trường hợp này, tất cả những gì bạn phải làm là tính toán chỉ số P/E sử dụng EPS kế hoạch.


Thứ hai là yếu tố ngành kinh doanh - việc so sánh các công ty với nhau chỉ thực sự hữu dụng khi các công ty đó nằm trong cùng một ngành kinh doanh. Ví dụ, các doanh nghiệp hay thực thể kinh doanh thường có số nhân (multiple) thấp bởi các doang nhgiệp này hoạt động trong ngành kinh doanh có tốc độ tăng trưởng thấp và tương đối ổn định. Ngược lại, ngành công nghệ là một ngành có tốc độ tăng trưởng đáng kinh ngạc và liên tục có sự đổi mới. Việc so sánh các công ty công nghệ này so với các thực thể kinh doanh nói trên sẽ chẳng cho bạn thấy được điều gì. Bạn chỉ nên so sánh các doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng nhanh với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành kinh doanh, hoặc so sánh các chỉ tiêu của doanh nghiệp với các chỉ tiêu bình quân ngành.

P/E và những mặt hạn chế.

Cho đến giờ thì chúng ta biết được rằng trong một số trường hợp nhất định, P/E có thể giúp xác định xem liệu một công ty có được đánh giá quá cao hoặc đang bị định giá thấp hay không. Nhưng việc phân tích tỷ lệ P/E cũng chỉ có giá trị trong một số trường hợp nào nhất định và việc phân tích nà vẫn có những “cạm bẫy”. Một vài nhân tố có thể khiến cho việc phân tích P/E trở nên vô ích bao gồm:

Hoạt động kế toán

Lợi nhuận ròng là một chỉ số kế toán bao gồm cả những khoản mục phi tiền tệ. Hơn nữa việc tính toán lợi nhuận doanh nghiệp bị chi phối bởi các nguyên tắc kế toán. Mà các nguyên tắc kế toán (GAAP) có thể thay đổi theo thời gian, cũng có sự khác biệt giữa các quốc gia. Để khiến cho mọi việc thêm phức tạp, EPS có thể bị bóp méo, hoặc ẩn chứa dưới nhiều con số, phụ thuộc vào cách thức làm sổ sách kế toán của doanh nghiệp như thế nào. Và kết quả là chúng ta vẫn không thể biết được liệu có so sánh đúng những số liệu này không, hay lại đang so quả táo với quả lê ?
thông thường việc tuân thủ các nguyên tắc kế toán (GAAP) mà những nguyên tắc này thay đổi theo thời gian và khác nhau trong từng nước. Làm phức tạp thêm các vấn đề, EPS có thể bị bóp méo, prodded và cho vào trong những con số khác nhau phụ thuộc vào bạn làm sổ sách kế toán như thế nào. Kết qủa là chúng ta vẫn không biết được dù chúng ta so sánh những con số như nhau hay apples to oranges (để hiểu rõ hơn về vấn đề này, hãy xem các loại khác nhau của EPS)

Lạm phát

Trong thời gian lạm phát cao, hàng tồn kho và chi phí khấu hao có khuynh hướng giảm đi vì chi phí thay thế hàng hoá và trang thiết bị tăng theo mức giá chung của thị trường. Do đó, tỷ lệ P/E có khuynh hướng thấp hơn trong suốt thời gian lạm phát cao bởi lợi nhuận đã bị bóp méo đi, lớn hơn với con số thực tế. Cũng như tất cả các chỉ số khác, việc xem xét P/E trong một thời gian để xác định xu hướng sẽ hữu ích hơn nhiều. Lạm phát sẽ khiến cho việc theo dõi trở nên khó khăn vì thông tin trong quá khứ sẽ không còn phù hợp nhiều với điều kiện hiện tại nữa, độ sai lệch cũng lớn hơn.

Có nhiều cách lý giải P/E

Một tỷ lệ P/E thấp cũng không nhất thiết là công ty đó bị định giá thấp. Thay vào đó, điều này có nghĩa là thị trường đang tin rằng công ty có thể sẽ gặp khó khăn trong tương lai gần. Giá cổ phiếu giảm thường do tác động của một số nguyên nhân nào đó. Có thể là do công ty đã cảnh báo rằng lợi nhuận ròng thu được sẽ thấp hơn kỳ vọng. Điều này sẽ không được phản ánh trong hệ số P/E cho đến khi thông tin về lợi nhuận ròng thật sự được đưa ra, trong suốt thời gian đó thì công ty có thể bị đánh giá thấp hơn giá trị thực.

2007-08-21

Common sentences in English speaking - part II

  • Đó là chưa đề cập đến sự thật là…: Not to mention to the fact that..

  • Nói thế không có nghĩa là : Saying so doesn’t mean...

  • Cái gì đến cuối cùng sẽ đến : What should come has finally come.

  • Không thể không dẫn đến : It is impossible not to lead to .....

  • Công bằng. thẳng thắn mà nói : To be fair/ frank saying ....

  • Giỏi lắm thì cũng chỉ là : As best as ....

  • Cùng, tồi lắm thì cũng chỉ là : As worst as ...

Ex. If being in such a bankrupt as Enrol’s he is as worst as a poor one.

  • Trước sự ngạc nhiên của : To the surprise of...

  • Một hiện tượng xưa nay chưa từng có : An unprecedented and unique phenomenon

  • Nêu/ đặt một tiền lệ: Set a precedent.

  • Đáng phải làm gì : deserve to do something.

Ex. Deserve to hang him.

  • Rốt cục, anh ta đã làm gì để bị ghét đến vậy : After all, what (wrong) did you do to be hated so much.

  • Không hiểu là : For unknown reason...

  • Phải nói/ phải công nhận rằng : It should be needed saying/ to say/ to admit...

  • Khi nào, ở đâu, trong bối cảnh nào và được làm bởi ai....: When, where, what context and by whom (is the world summit held?)

  • Dưới danh nghĩa : Under the pretext, in the name of...

  • Khi nào cần liên hệ với ai : In case of need, who can I contact?

  • Không lẽ một người như anh lại không biết : Doesn’t a man like you know that...

  • Cần quái gì phải biết anh ta : Who is the hell that I need to know him? ? Câu này có vấn đề

  • Anh đang làm cái quái gì thế: What the hell/ on earth are you doing/ saying?

  • Tôi biết cái quái gì mà hỏi: What the hell do I know for you to ask?

  • Nói chung/ riêng : In general / in particular.

  • Là người trong/ngoài cuộc, tôi cho rằng...: As an insider/ outsider I consider that...

  • Không ai có thể giỏi bằng : Noone is as good as (him in the mobile communication field).

  • Không thể tưởng tượng được: Unimaginablely.

  • Không kém phần quan trọng : Such a equally important thing (like that)...

  • Điều tương tự không được đề cập đến : The same can not be said.

  • Xét về phương diện tình cảm/ khoa học/ kỹ thuật .... : From emotional / scientificial/ technicial point of view = Emotionally/ scientificially/ technicially = In terms of emotion/ science/ technique... (Note: Như vậy với tính từ, trạng từ và danh từ, chúng ta đều có thể xây dựng được đoạn câu, nếu bí trong việc sử dụng loại hình này, chúng ta hoàn toàn có thể chuyển sang dùng loại hình khác)

  • Theo nguyên tắc của: On the principle of ...

  • Không thể trì hoãn thêm được nữa : It’s impossible to further delay.

  • Dưới chiêu bài/ nấp dưới danh nghĩa : Under the pretext of...

  • Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu... : Alas ! Glorious is gone with the time...

  • Trong những cuộc đàm phán cấp cao loại này : In (senior negotiation)s of this kind.

  • Với tinh thần xây dựng, tôi tin tưởng rằng : On the spirit of constructiveness, (I beleave that....).

  • Với sự chứng kiến/ tham gia của : In the present/ participation of

  • Không lâu lắm : Quite not long ago

  • Rơi vào tình huống khó xử : To get into trouble.

  • Dựa trên cơ sở nào mà anh lại có thể nói/ làm như thế: On what bases can you say/ do like that.

  • Nếu mọi việc tiến triển tốt đẹp, tôi không loại trừ khả năng : If everything goes on smoothly, I do not exclude the possibility that...

  • Thật đáng để chú ý/ làm gì: What is worth paying an attention/ notable to do something.

  • Đã lâu lắm vào nhưng năm... : As long as in (1980s for instance)...

  • Không phải không có lý do : It is not without reasons...

  • Nhân tố không kém phần quan trọng : Another noteless important factor.

  • Không còn tâm trí đâu để mà... : Have no mind for doing something.

  • Chú ý cách dùng từ trong những câu sau:

  1. There are more and more people coming to...

  2. More and more people come to...

  3. There is a increasingly number of people coming to...

  • Đi vào lịch sử : Go down in the history.

  • Làm gì có chuyện... : How can it be so that...

  • Nói chơi thôi : That’s for fun.

  • Còn lâu : It will take a lot of time -> No need to hurry up. Khác với nói ai không có khả năng để làm việc gì đó (anh thì còn lâu mới làm được như thế này) = It’s impossible for sb to do sth / It will be long for sb to do sth.

  • Đi ngược lại với : sth runs against sth.

  • Trong bối cảnh của : In the context of.

Ex. Trong bối cảnh hiện nay của hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu, những thị trường chứng khoán yếu như của Việt Nam sẽ bị tác động trên cả hai hướng, tích cực và tiêu cực. -> In the current context of regional and international economic intergration, it’s impossible for such a weak stock markets like Vietnam’s not to be not only possitively but also negatively affected. (???) không rõ nghĩa!

  • Có thể nói không ngoa rằng : It’s possible to say (It is said) without any exacggration that...

  • Khỏi phải nói: There’s no word there.

  • Nếu không muốn nói ngược lại : If not to say/ saying the contrary.


Common sentences in English speaking - part I

  • Đáng lẽ, thay vì: In stead of doing something.

  • Việc... : The fact....

Ex. The fact IMF put a restrict rule on developing countries sometimes, it goes so far that it interferes the dosmestic affairs of those sovereign countries -> Việc IMF sử dụng những điều luật khắc nghiệt tại các nước đang phát triển đôi khi đi quá xa (?) vì nó can thiệp vào công việc nội bộ của các nước có chủ quyền.

  • Đáng lẽ ra: Should have done.Ex. She should have said to him the truth if she had known who he was

  • Hẳn đã· : Must have done.

Ex. I can’t find my car’s key. I must have left it at home.

  • Ai mà chẳng biết: Who doesn’t know that, Everybody knows that

  • Vấn đề là ở chỗ, cái khó là ở chỗ: The problem is that, the difficulty is (that)

  • Cứ như kiểu này, cứ cái đà này... : As it is, if things go on like this.

  • Một thực tế hiển nhiên không thể phủ nhận là: An obvious undeniable fact that. (Not An undeniable obvious fact that)

  • Than ôi !: Alas !

  • Không gì sai bằng nói: Nothing as wrong as saying...

(Câu trên này có vấn đề)

Ex. 1. Saying all PHP is terrible would be as wrong as saying all ASP is fantastic

2. Although the types of chemical bonds in water and amalgam differ, saying that amalgam will poison you is just as wrong as saying that drinking water will make you explode and burst into flames


  • Người đi trước, tổ tiên, ông cha đã không sai khi nói...: People in the past (ancestors) were right saying...

  • Chờ xem: Wait to see.

  • (Không) cần phải nói: No need to say, it is necessary to say...

  • Đã qua rồi cái thời....: Gone is the time when + clause

Có thể dùng Gone is the time + of

Ex. Gone is the time of a less than perfect audio sound

Ex. Gone is the time when we had to stand in line and wait for the turn to buy food.

  • Điều đáng ngạc nhiên là: What’s surprising is (that)...

Ex. What’s surprising is that we won.

  • Điều lạ là: What strange is...

  • ... Là một chuyện,…lại là một chuyện khác: ...is onething, and....is another thing.

Ex. Whether or not international associations can invest for Vietnam is onething, and effectivelly using the invested capital is another thing.

Việc các tổ chức quốc tế có thể đầu tư vào Việt Nam hay không là một chuyện, còn việc sử dụng hiệu quả vốn đầu tư đó lại là một chuyện khác.

  • Xu hướng hiện nay....: The trend now + clause/is + phrase.

Ex. - What is the trend now regarding this?
- But
the trend now affects more and more people in more and more aspects of their lives (MSN Money - Welcome to the risk economy - Jubak's Journal).

  • Không thể khác được : It can not be otherwise.

Thường dùng cả câu, kết thúc luôn, không kèm theo đoạn nào nữa, hoặc có dấu hai chấm theo sau.

Ex. - It can not be otherwise: the Moon uses the Sun’s energy to radiate through the personality…

- Humans accept that it can not be otherwise

  • Không còn lựa chọn nào khác: Having no other choices/wayouts/...

  • Ấy vậy mà : And yet

Ex. A few people is as beautiful as her, and yet she doesn’t look well in picture (ăn ảnh).

  • Chẳng bao lâu: Very soon + clause.

  • Tính đến...: Take something into the consideration/ account

Ex. Anh ta sẽ có đủ tiền để thành lập công ty riêng trong năm tới nếu tính đến cả sự giúp đỡ của bạn bè.

-> He will have enough money to establish his own private company if it takes his friends’ helps into the consideration.

  • Theo tôi nhớ/ biết: As far as I remember/ know.

  • Theo tôi : As for me / I think that...

(remember not to use Arcording to me)

  • Chừng nào.....: The reality shows as long as + S + would + V

Ex. The reality shows as long as the US continues to treat unfairly to Isalism countries, there would be terrorism -> Chừng nào Mỹ còn đối xử không công bằng với các nước Hồi giáo, chừng đó vẫn còn chủ nghĩa khủng bố.

  • Tin hay không thì tùy: Beleave it or not.

  • Hơn bao giờ hết, hơn ai hết : More than ever before/ more than anyone else.

  • Không ai ngờ : No one could think.

  • Sớm hay muộn thì.... Sooner or later...

  • Cuối cùng, rốt cục : In the end/ after all/ eventually/ finally.

  • Phải thừa nhận là : It should be admitted that.../ It is necessary to admit the fact that...

  • Không thể không kể đến : It is impossible not to mention to...

  • Không dám, không phải để tâm đâu! (Khi không chấp nhận lời cảm ơn): Don’t mention it.

  • Chẳng trách : No wonder why/ not surprisinglly....

  • Xét về một phương diện nào đó : To some extent, in some aspect, in some line.

  • Xét về tất cả phương diện : In all aspects.

  • Cứ như thế này thì chẳng mấy chốc ... : As it is very soon + clause.

  • Hóa ra....: It turns out.

Ex. Oh, you turn out to be a fan of Manchester.

  • Đến tận bây giờ : Even by now / only by now...

  • Là ai/ cái gì nữa nếu không phải là tôi/ cái gì đó : Who/ what else if not (me/ something).

  • Không thể như thế được : It can not be so.

  • Nếu tôi nhớ không nhầm : If my memory doesn’t fail.

  • Đã … lại còn … hơn: Make sb more and more + Adj or make + Adj + sb become more + Adj.

  • Còn nói gì đến : Let alone...

Adv. let alone - much less; "she can't boil potatoes, let alone cook a meal"

Ex. Anh không có nổi một chiếc xe đạp, nói gì đến xe máy -> You haven’t even any bicycle let alone motorbike.

  • Cùng với thời gian : As the time passes...

  • Tôi thấy không có gì tốt ở : I see nothing good in...

  • Một thực tế đáng buồn là : There’s a sad fact that...

  • Đến đâu/ chừng nào: To what extent (khác với to some extent = về một phương diện nào đó).

  • Đã, đang và sẽ có : Has had, is having and will have.

  • Chưa đề cập đến, không nhắc đến : Not to mention…

Examples from classic literature: More

1. With the feeble malice (['mælɪs] n. malevolence, hostility, ill-will, desire to harm another ) of a tired man; but, as he had no theory, and no coat on, he was unanimously set at nought - not to mention his smoking hard behind, as he stood with his back to the kitchen fire to draw the damp out: which was not calculated to inspire confidence.
(Great Expectations by Dickens, Charles View in context)

2. He said not to mention it; but he wouldn't mind your knowing, of course.
(Pollyanna by Porter, Eleanor H. View in context)

3. From Salamis to Actium, through Lepanto and the Nile to the naval massacre (thảm sát) of Navarino, not to mention other armed encounters of lesser interest, all the blood heroically spilt into the Mediterranean (Địa Trung Hải) has not stained with a single trail of purple the deep azure of its classic waters.
(The Mirror of the Sea by Conrad, Joseph View in context)